Chia sẻ Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại

Thảo luận trong 'Quảng cáo tổng hợp' bắt đầu bởi kyle26109409, 9/12/22.

  1. kyle26109409 PageRank 1 Member

    Tham gia ngày:
    8/9/22
    Nguyên tắc chung của việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là "không có thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài, không có tố tụng trọng tài". Luật Trọng tài thương mại cũng khẳng định: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”.

    Trừ một số ngoại lệ, các bên phải thoả thuận trong hợp đồng là sử dụng phương thức trọng tài, và xác định chi tiết các quy tắc tố tụng hoặc dựa vào các quy tắc tố tụng trọng tài của một tổ chức trọng tài thường trực. Trong trọng tài vụ việc, các bên tự quyết định trọng tài sẽ được tiến hành như thế nào mà không có sự trợ giúp của một tổ chức trọng tài thường trực. Trong trọng tài thường trực, tố tụng trọng tài được thực hiện với sự trợ giúp của một tổ chức trọng tài thường trực. Tùy thuộc vào thoả thuận giữa các bên, cách tiến hành tố tụng trọng tài có thể khác hoặc không khác cách tiến hành tố tụng tại một tòa án quốc gia. Tuy nhiên, chính các bên (hoặc tổ chức trọng tài thường trực, hoặc bất kỳ bên thứ ba nào khác được các bên chỉ nh) thành lập Hội đồng trọng tài. Hơn nữa, các quy tắc tố tụng trọng tài ường linh hoạt hơn và ít thủ tục hơn các quy tắc của pháp luật quốc gia.

    Tham khảo dịch vụ thành lập công ty trọn gói tại TP.HCM.

    Do tính chất đặc thù của trọng tài (giải quyết nhanh, linh hoạt, không mg khai v.v... ) nên việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải tuân leo những nguyên tắc riêng biệt, khác với nguyên tắc giải quyết tranh chấp mg Tòa án. Luật Trọng tài thương mại năm 2010 kế thừa các nguyên tắc lái quyết tranh chấp bằng trọng tài đã được quy định trong Nghị định số 16/CP năm 1996 và Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, theo đó việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải dựa trên thỏa thuận trọng tài, việc giải quyết bằng trọng tài không công khai, phán quyết trọng tài là chung thẩm.

    Điều 4 của Luật Trọng tài thương mại ghi nhận các nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài:

    1. Nguyên tắc Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.

    Nguyên tắc này thể hiện rõ nét quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp. Đây là nguyên tắc cốt lõi của toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài vì thực chất sự hình thành trọng tài là do ý chí tự nguyện của các bên đương sự. Điều 5 Luật Trọng tài thương mại khẳng định, tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Không có thỏa thuận trọng tài thì không thể có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. thỏa thuận trọng tài về cơ bản là cơ sở cho việc phân biệt thẩm quyền giữa trọng tài và tòa án và cũng là cơ sở để xác định thẩm quyền của trọng tài. theo đó, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên có thỏa thuận trọng tài, đồng thời tòa án phải từ chối giải quyết vụ tranh chấp cho các bên đã có thỏa thuận trọng tài. Đây là một nguyên tắc quan trọng ma trọng tài, đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp, đồng thời cũng chỉ rõ thêm tính chất tài phán tư của hình thức giải quyết tranh chấp này.

    Nguyên tắc này cũng chỉ rõ các bên có toàn quyền lựa chọn hay không lựa chọn phương thức trọng tài để giải quyết tranh chấp; chọn các Trung

    tâm Trọng tài; chọn Trọng tài viên; chọn địa điểm tiến hành trọng tài; và hơn nữa họ còn có quyền thỏa thuận các quy tắc tố tụng của của trọng Thậm chí trong quá trình tố tụng các bên có quyền thỏa thuận giải quyết tranh chấp và quyết định việc chấm dứt tố tụng trọng tài. Nhiều quy tắc tụng đã chỉ rõ nghĩa vụ tôn trọng thỏa thuận của các bên. Quy tắc Trọng của Phòng Thương mại quốc tế ICC là một dấu mốc mang tính lịch sử quyền tự quyết của các bên tham gia: “Các bước tiến hành trọng tài sẽ đi quy định bởi Quy tắc này, và trong trường hợp Quy tắc này không quy định bất kỳ quy tắc nào mà các bên tham gia, hoặc nếu các bên không quy đ thì Hội đồng trọng tài có thể quyết định”. Quy tắc Trung tâm giải quyết ( tranh chấp đầu tư quốc tế (ICSID) quy định: "Ngay sau khi thành lập 1 đồng trọng tài, Chủ tịch Hội đồng trọng tài sẽ cố gắng xem xét chắc cl\ quan điểm của các bên liên quan đến vấn đề thủ tục. Với mục đích này, c tịch có thế yêu can gặp các bên v.v... Trong quá trình giải quyết tranh chí Hội đồng trọng tài sẽ áp dụng bất kỳ thỏa thuận nào giữa các bên về vấn đề tố tụng trừ trường hợp được quy định trong Công ước hay các quy định hành chính và tài chính

    Luật Trọng tài thương mại đã đi theo tinh thần tôn trọng tối đa ý chí do thoả thuận của các bên. Ưu điểm của thủ tục giải quyết tranh chấp linh hoạt, đơn giản, nhanh gọn và dựa trên thỏa thuận của các bên. Luật Trợ tài thương mại đưa ra nguyên tắc ưu tiên sự thoả thuận của các bên trong tụng trọng tài, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì Luật này đưa ra các quy định về trình tự, thủ tục cần thiết. Theo Luật Trọng thương mại, các bên được tự do lựa chọn hình thức trọng tài, tự do th thuận về cách thức chỉ định Trọng tài viên, thay đổi Trọng tài viên, địa điểm trọng tài, ngôn ngữ trọng tài, tự do lựa chọn quy tắc tố tụng trọng tài v.v...

    2. Nguyên tắc Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tiu. theo quy định của pháp luật.

    Sự độc lập là yêu cầu vô cùng quan trọng, mang tính quyết định đ< việc giải quyết và đưa ra một phán quyết khách quan cho vụ tranh chấp Hơn thế nữa sự vô tư khách quan của Trọng tài viên còn góp phần khẳng định uy tín của Trọng tài với các bên. Trong quá trình tố tụng không dư( có bất kỳ một sự can thiệp của bất kỳ ai đối với Trọng tài viên. Khi giải quyết vụ việc, các Trọng tài viên trong Hội đồng trọng tài độc lập với nhau, chỉ lấy pháp luật và sự thỏa thuận của các bên làm cơ sở cho quyết định của mình. Bất kỳ Trọng tài viên nào không bảo đảm được sự khách quan trong quá trình giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp đều có quyền thay đổi.

    Yêu cầu về sự độc lập, vô tư, khách quan của Trọng tài viên được ghi nhận trong pháp luật và quy tắc tố tụng trọng tài nhiều nước. Luật Trọng tài thương mại quốc tế của Liên bang Nga năm 1993 quy định, khi chỉ định Trọng tài viên, cơ quan có thẩm quyền căn cứ.vào tất cả những yêu cầu về trình độ trọng tài theo như thỏa thuận của các bên và căn cứ vào đánh giá có thể đảm bảo chỉ định được Trọng tài viên độc lập và vô tư, còn trong trường hợp chỉ định Trọng tài viên duy nhất hoặc Trọng tài viên thứ ba thì cần chú ý yêu cầu chỉ định Trọng tài viên là người có quốc tịch khác quốc tịch của cả hai bên. Điều 12 của Luật này cũng quy định cơ sở để khước từ Trọng tài viên. Khoản 1 xác định, nếu được hỏi về một người nào khi người đó có thể được chỉ định làm Trọng tài viên, thì người đó phải thông báo tất cả các lý do có căn cứ có thể gây nên nghi ngờ về tính vô tư và độc lập. Từ khi được chỉ định và trong suốt quá trình xét xử, Trọng tài viên phải khẩn trương thông báo cho các bên các lý do, nếu trước kia chưa thông báo về các lý do đó. Khoản 2 ghi nhận việc khước từ Trọng tài viên có thể được yêu cầu trong trường hợp, nếu có các căn cứ để nghi ngờ về sự không vô tư hoặc không độc lập của họ, hoặc họ không có trình độ như các bên yêu cầu. Mỗi bên có thể yêu cầu khước từ Trọng tài viên do mình chỉ định hoặc do mình tham gia chỉ định vì các lý do chỉ sau khi chỉ định mới được biết. Luật Trọng tài Anh năm 1996 cũng ghi nhận: “Hội đồng trọng tài phải hành động công bằng và vô lư giữa các bên, cho họ cơ hội hợp lý để trình bày vụ việc của mình và giải quyết vụ việc của đối phương V. V...

    Tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, Luật Trọng tài thương mại Việt Nam đã ghi nhận về sự độc lập, vô tư, khách quan của Trọng tài viên. Thậm chí điều này còn được ghi nhận là một nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, theo đó Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật, Ngoài ra, tại Điều 21 về quyền và nghĩa vụ của Trọng tài viên, Trọng tài viên có quyền và nghĩa vụ độc lập trong việc giải quyết tranh chấp, cũng như bảo đảm giải quyết tranh chấp vô tư, nhanh chóng, kịp thời. Điều 42 cũng xác định quyền của các bên được thay đổi Trọng tài viên trong trường hợp có có căn cứ rõ ràng cho thay Trọng tài viên không vô tư, khách quan. Kể từ khi được chọn hoặc được chỉ định, Trọng tài viên phải thông báo bằng văn bán cho Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài và các bên về những tình tiết có thể ảnh hưởng đến tính khách quan, vô tư của mình.

    Trong tố tụng trọng tài, các bên có nhiều quyền tự định đoạt và bình đẳng với nhau về việc được tự do lựa chọn trọng tài, quy tắc tố tụng, luật áp dụng, địa điểm, ngôn ngữ, thời gian tiến hành tố tụng trọng tài, quốc tịch của Trọng tài viên v.v... Trong khi đó, mặc dù thẩm phán của tòa án quốc gia có thể khách quan, họ vẫn buộc phải sử dụng ngôn ngữ và áp dụng quy tắc tố tụng của quốc gia họ và thường cùng quốc tịch với một bên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Tòa án quốc gia thường có thiên hướng bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp nước mình.

    Trong khi đó với trọng tài, các bên có thể bình đẳng về: nơi xét xử trọng tài (tại một nước trung lập); ngôn ngữ sử dụng; quy tắc tố tụng; quốc tịch của các Trọng tài viên; và đại diện pháp lý. Quyền bình đẳng của các bên về các yếu tố nêu trên đã được Luật Trọng tài thương mại Việt Nam ghi nhận tại nhiều điều khoản như khoản 2 Điều 10 về ngôn ngữ (đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận. Nếu các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định), khoản 1 Điều 11 về địa điểm giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài (các bên có quyền thỏa thuận địa điểm giải quyết vụ tranh chấp), khoản 2, khoản 3 Điều 14 về Luật áp dụng giải quyết tranh chấp (đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất; Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bèn lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

    3. Nguyên tốc các bên tranh chấp đền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

    Đây là nguyên tắc đã được đề cập một cách rõ ràng trong cả Công ước New York 1958 và Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của ủy ban Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) và được Trọng tài của tất cả các nước thực hiện. Theo nguyên tắc này, các bên tranh chấp hoàn toàn có quyền như nhau trong việc lựa chọn, khước từ Trọng tài viên, lựa chọn địa điểm, đưa ra yêu cầu và các lý lẽ biện minh cũng như các chứng cứ để Trọng tài xem xét và việc tiếp nhận thông tin từ các bên. Trong quan hệ tranh chấp các bên có địa vị pháp lý như nhau và trong tố tụng trọng tài các bên có tư cách tố tụng bình đẳng với nhau trong tất cả mọi hoạt động nhằm bảo đảm giải quyết vụ tranh chấp một cách công bằng và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên. Yêu cầu về việc các bên phải được đối xử công bằng là một giới hạn của quyền tự quyết của các bên.

    Đây là nguyên tắc quan trọng của tố tụng trọng tài, theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên phải được tôn trọng và bảo vệ, các bên được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Sự bình đẳng này thể hiện trong nhiều điều khoản của Luật Trọng tài thương mại như bình đẳng về thỏa thuận luật áp dụng, địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, ngôn ngữ trong tố tụng trọng tài, số lượng Trọng tài viên v.v...

    Nhiều điều khoản của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã đề cập tới trách nhiệm của Hội đồng trọng tài tạo điều kiện để các bên tranh chấp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Ví dụ, tại Điều 43, trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài; thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của mình. Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này. Trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì Hội đồng trọng tài quyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo ngay cho các bên biết. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu phát hiện Hội đồng trọng tài vượt quá thẩm quyền, các bên có thể khiếu nại với Hội đồng trọng tài. Hội đồng trọng tài có trách nhiệm xem xét, quyết định. Tại điều 54 về chuẩn bị phiên họp giải quyết tranh chấp, trường hợp các bên không có thỏa thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không có quy định khác, giấy triệu tập tham dự phiên họp phải được gửi cho các bên chậm nhất 30 ngày trước ngày mở phiên họp. Trường hợp có sự vắng mặt của các bên, theo yêu cầu của các bên, Hội đồng trọng tài có thể căn cứ vào hồ sơ để tiến hành phiên họp giải quyết tranh chấp mà không cần sự có mặt của các bên (Điều 56).

    Trong trường hợp có yêu cầu của các bên về việc tiến hành hòa giải, Hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Khi các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết trong vụ tranh chấp thì Hội đồng trọng tài lập biên bản hoà giải thành có chữ ký của các bên và xác nhận của các Trọng tài viên. Hội đồng trọng tài ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Quyết định này là chung thẩm và có giá trị như phán quyết trọng tài (Điều 58).

    4. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường họp các bên có thỏa thuận khác

    Các phiên xét xử tại toà án cũng như việc tuyên các phán quyết của tòa án là công khai, nhưng đây lại là điểm khác biệt lớn nếu so sánh với trọng tài. Các phiên xét xử trọng tài không được tổ chức công khai và chỉ có các bên nhận được phán quyết. Đây là một ưu điểm lớn của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khi vụ kiện liên quan tới các bí mật kinh doanh. Các điều khoản về tính bí mật trong hợp đồng phải được tuân thủ trong thủ tục trọng tài. Đặc biệt, trong các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, các điều khoản bổ sung về tính bí mật có thể được soạn thảo bởi hai bên (dưới dạng điều khoản hợp đồng) hoặc các Trọng tài viên (dưới dạng một trình tự thủ tục hoặc trong điều khoản dẫn chiếu).

    Nguyên tắc này xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh, thương mại là nhanh nhạy, bí mật và uy tín. Trong cơ chế thị trường, những yếu tố này quyết định sức mạnh thậm chí sự thành bại, sống còn của các nhà kinh doanh trên thương trường cạnh tranh. Chính vì vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp các bên luôn muốn việc giải quyết tranh chấp của mình được giữ kín, các bí mật, bí quyết trong kinh doanh không bị tiết lộ, uy tín của mình không bị ảnh hưởng. Nguyên tắc này được thể hiện thông qua nhiều cách thức như các phiên họp trọng tài không công khai, ngoài Trọng tài viên và các bên tranh chấp không ai được tham dự trừ khi có sự đồng ý của các bên, Trọng tài viên phải đảm bảo giữ bí mật những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của các bên mà mình biết được trong quá trình giải quyết tranh chấp, phán quyết của trọng tài không được công bố công khai trừ khi được các bên cho phép v.v...

    Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai được ghi nhận trong pháp luật và quy tắc tố tụng của nhiều nước. Ví dụ, Quy tắc tố tụng của Tòa án trọng tài Phòng Thương mại quốc tế ICC quy định: "... Hội đồng trọng tài có toàn quyền đối với phiên họp giải quyết tranh chấp, tại phiên họp tất cả các bên cỏ quyền có mặt. Trừ khi được sự đồng ý của Hội đồng trọng tài và các bên, những người không liên quan đến việc tố tụng trọng tài không được tham dự”.

    Nhiều điều khoản trong Luật Trọng tài thương mại Việt Nam đã ghi nhận việc bảo đảm tính bí mật và không công khai trong tố tụng trọng tài, ví dụ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (Điều 4), giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải quyết trừ trường hợp phải cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (Điều 21), phiên họp giải quyết tranh chấp được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có sự thỏa thuận khác, trong trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hội đồng trọng tài có thể cho phép những người khác tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp. Những người khác, không phải là các bên đương sự chi được tham gia khi đó sự đồng ý của các bên tranh chấp, về điều này, Luật Trọng tài thương mại (Điều 55) chỉ rõ, trong trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hội đồng trọng tài có thể cho phép những người khác tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp. Luật Doanh nghiệp 2020 cũng có bổ sung 1 số điểm mới khi thành lâp công ty.

    5. Nguyên tắc phán quyết trọng tài là chung thẩm

    Một trong các đặc điểm quan trọng giúp phân biệt trọng tài với tòa án chính là tính chung thẩm của phán quyết trọng tài. Tính chung thẩm được hiểu là khi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết, phán quyết này không thể bị xét lại trừ một số trường hợp đặc biệt.

    Đây là nguyên tắc đặc trưng của tố tụng trọng tài. Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của hoạt động Trọng tài là nhân danh ý chí tối cao và quyền lực các bên trao cho để giải quyết tranh chấp. Nguyên tắc này chỉ được thể hiện bằng quy định: Tố tụng trọng tài là tố tụng một cấp, phán quyết là chung thẩm, các bên không có quyền kháng cáo. Các bên chỉ có quyền yêu cầu Toà án huỷ quyết định trọng tài trong những trường hợp rất hạn chế và Tòa án trong trường hợp này không được quyền xét xử lại vụ tranh chấp mà chỉ kiểm tra tính hợp pháp của quyết định Trọng tài.

    Luật Trọng tài thương mại Việt Nam tại Điều 4 đã xác định các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, trong đó nêu rõ phán quyết trọng tài là chung thẩm. Điều 61 của Luật này cũng khẳng định, phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
     
    #1

Chia sẻ trang này